Là một Việt kiều có nhiều đóng góp trong việc phát triển nền kinh tế đất nước, trong bình thường hóa quan hệ Việt- Mỹ, tham gia tư vấn, kêu gọi đầu tư nước ngoài cho nhiều dự án lớn tại Việt Nam..., năm 2004, ông vinh dự nhận giải thưởng "Vinh danh nước Việt" dành cho những người làm rạng danh đất nước trên khắp năm châu bốn bể. Phóng viên báo Kinh tế & Đô thị đã có cuộc trò chuyện với chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành về cuộc đời, sự nghiệp cũng như suy nghĩ của ông về những vấn đề nóng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay.
Vẫn tồn tại cái gọi là "phí quan hệ"
Điều gì đã khiến ông chọn trở về Việt Nam, bỏ lại tất cả những thành quả mà ông đã có được bằng mồ hôi và nước mắt sau nửa đời xa quê?
- Những năm 1980, nhận lời mời của một số lãnh đạo cao cấp của Việt Nam, tôi đã đưa ra những ý kiến đóng góp trong việc xây dựng chính sách đổi mới... Đến cuối năm 1991, tôi chính thức về Hà Nội. Lúc đó, Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, nước ta gần như mất mọi nguồn viện trợ. Nhà nước thông qua Bộ Ngoại giao đã mời tôi về tư vấn xung quanh những vấn đề phát sinh của nền kinh tế - tài chính... Rồi Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó đã giới thiệu tôi về hỗ trợ Ban Biên giới Chính phủ nghiên cứu cơ sở luật pháp để bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên thềm lục địa Biển Đông.
Với vai trò trung gian, tôi làm việc với Bộ Ngoại giao Mỹ để tác động đến Chính phủ Mỹ, giúp Việt Nam đạt được một văn bản giải toả cấm vận đặc biệt của Chính phủ Mỹ như cho phép Công ty Luật Convington & Burling của Mỹ được ký hợp đồng với Chính phủ Việt Nam để nghiên cứu về mặt luật pháp chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông. Đây chính là cơ sở pháp lý quốc tế cho Việt Nam giải quyết những tranh chấp ở thềm lục địa sau này - nơi đất nước ta có tới 1 triệu cây số vuông mặt biển chủ quyền.
Là một Việt kiều đã làm "Vinh danh nước Việt", ông đánh giá thế nào về đóng góp của bà con Việt kiều đối với đất nước thời gian qua?
- Trước đây, bà con ở nước ngoài đóng góp tài chính, phương tiện, thuốc men cho gia đình. Đó là cách tạo vốn cho người thân ở quê hương. Có được chút vốn, họ xây dựng cơ sở kinh doanh, những xí nghiệp nhỏ và vừa đầu tiên ra đời. Đây chính là sự chớm nở của nền kinh tế nhiều thành phần. Cộng lại số kiều hối gửi về khi đó là không nhỏ, nhiều gấp mấy lần sự đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam.

Bên cạnh đó, cộng đồng Việt kiều đã đạt được những thành tựu đáng kể, có vị trí quan trọng trong xã hội, từ kinh doanh, tri thức, giáo dục đến chính trị ở nước sở tại như Mỹ, Đức, Pháp… Họ chính là những hạt giống đất Việt nở hoa trên đất người. Họ là những con người thực thi một nhiệm vụ cao cả, đó là: Vinh danh nước Việt trên khắp năm châu bốn biển.
Tham gia hoạt động kinh doanh trong nước nhiều năm, ông đánh giá thế nào về môi trường kinh doanh ở Việt Nam hiện tại?
- Nhà nước và Chính phủ đã cố gắng rất nhiều để cải thiện môi trường kinh doanh. Thực tế, môi trường kinh doanh ở Việt Nam đã tốt hơn rất nhiều, không chỉ với các nhà đầu tư trong nước mà cả trong mắt bạn bè quốc tế. Tuy nhiên, điểm "kẹt" lớn nhất trong hoạt động kinh doanh của mình là vẫn tồn tại cái gọi là "phí quan hệ".
Ở Mỹ, nếu nhận quà biếu, bất kể quà có giá trị nhiều hay ít, tất cả đều phải khai báo. Nếu không khai báo là vi phạm, là tham nhũng và bị pháp luật xử lý ngay. Còn ở ta, phong bì chạy tới ông này, ông kia nhưng xử lý chưa triệt để. Đã có nhiều lãnh đạo phát biểu rằng, chuyện ngoài thu nhập là có, vì lương của cán bộ không đủ sống nên phải thông cảm. Nghĩa là chúng ta biết nguồn gốc vấn đề. Biết, hiểu nhưng chỉ nói thôi thì chưa đủ, phải tìm cách giải quyết vấn đề.
“Cho vay để DN đẻ trứng vàng chứ không phải siết cổ họ”
Câu chuyện tín dụng ngân hàng đang được nói đến nhiều thời gian qua. Ông đánh giá thế nào về hoạt động tín dụng tại các ngân hàng Việt Nam hiện nay?
- Một trong những điều nguy hiểm nhất của hoạt động tín dụng trong các ngân hàng Việt Nam hiện nay là cho vay hình như chỉ nhìn vào "sổ xanh, sổ đỏ". Thói quen xử lý tín dụng chỉ dựa trên tài sản thế chấp chứ không nhìn vào phương án kinh doanh hay khả năng trả nợ là cực kỳ nguy hiểm. Anh "ỷ lại" vào tài sản thế chấp, nhưng nếu không quan tâm đến người ta vay làm gì, vay để làm ăn hay đánh bạc; không sống cùng người ta thì sao mà thu nợ được.
Hơn nữa, lãi suất cho vay của chúng ta quá cao, có thời điểm lãi vay lên tới 20 - 25%/năm và hơn thế nữa. DN nào, cá nhân nào có thể chịu nổi mức lãi suất đó.
Ngân hàng cho vay để cá nhân, DN đi vay đẻ trứng vàng chứ không phải cho họ uống thuốc độc hay siết cổ họ. Tôi thấy, tư duy của một số người làm tín dụng hiện nay là chỉ biết đến lợi ích trước mắt của bản thân mình, còn DN, người vay sống chết thế nào thì "mặc bay".
Hậu quả của việc cho vay chỉ dựa vào "sổ xanh, sổ đỏ" này là gì, thưa ông?
- Là vốn đi không đúng hướng, thay vì vốn phải chảy vào sản xuất kinh doanh thì lại chảy vào những chỗ khác. Bất động sản, chứng khoán tăng nóng, phát triển gấp một thời là vì thế. Những nơi có phương án kinh doanh tốt, tiềm năng chưa chắc đã được vay. Còn những nơi có thế chấp, có bảo lãnh, phát triển nóng có khi lại được ngân hàng "tay bắt mặt mừng".
Ngân hàng giải thích cho việc lãi vay ra cao là do họ từng huy động đầu vào cao. Điều này có thuyết phục không, thưa ông?
- Tôi đã từng nghe không chỉ các ngân hàng thương mại mà nhiều lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đưa nguyên nhân này. Nhưng theo tôi, sự giải thích này là chưa thuyết phục lắm.
NHNN Việt Nam hiện vẫn chưa làm hết vai trò của một Ngân hàng Trung ương. Vai trò của Ngân hàng Trung ương là điều tiết tiền tệ, như bơm nước vào ruộng lúa, phải bơm đúng giai đoạn tuổi lúa, đúng thời tiết và các tác động xung quanh làm sao để lúa phát triển tốt, không thừa nước dẫn đến ngập úng hay không thiếu nước làm hạn hán.
Điển hình như việc khi lãi suất cho vay lên mức quá cao, đe dọa DN, nhẽ ra Ngân hàng Trung ương phải can thiệp. Phải bơm vốn lãi suất thấp cho ngân hàng thương mại để họ cho vay ra với mức giá DN chịu đựng được. Vốn này, NHNN cho ngân hàng thương mại vay chứ đâu có phải cho không họ. Đằng này, NHNN Việt Nam hoặc để ngân hàng thương mại "tự tung tự tác" quyết định lãi suất cho vay, hoặc can thiệp bằng biện pháp hành chính. Đó là điều không nên.
“Giấu” nợ xấu để “né” trích lập dự phòng rủi ro
Hiện tại trong ngành ngân hàng có một mâu thuẫn, đó là: Nợ xấu tăng cao nhưng ngân hàng vẫn lãi "khủng". Tại sao vậy, thưa ông?
- Theo quy định thì các nhóm nợ xấu khác nhau sẽ phải trích lập dự phòng rủi ro khác nhau. Ví dụ, nợ thuộc nhóm 4 (nghi ngờ) thì phải trích dự phòng rủi ro lên 50%, còn nợ thuộc nhóm 5 (khả năng mất vốn) phải trích dự phòng rủi ro 100%.
Bởi vậy, sẽ có tình trạng nhiều ngân hàng "giấu" nợ xấu để không phải trích lập dự phòng rủi ro. Và đó là nguyên nhân khiến nợ xấu tăng cao nhưng mức lãi của các ngân hàng thương mại vẫn "đáng mơ ước".
Nợ xấu, lãi suất, quan hệ "trên gầm bàn, dưới gầm bàn", cán bộ móc ngoặc, tham nhũng..., những vấn đề này của ngành ngân hàng có phải xuất phát từ những hạn chế về đạo đức của cán bộ trong một ngành vốn rất cần sự minh bạch không, thưa ông?
- Thực ra, câu chuyện đạo đức cán bộ đâu chỉ nóng ở riêng lĩnh vực ngân hàng. Đạo đức con người là tổng hòa của bản chất, đào tạo, giáo dục và quản lý.
Đơn giản nhất như việc đi xin chữ ký và con dấu của Bản sao giấy khai sinh. Chỉ cần lên phường, lãnh đạo ký tên, đóng dấu là xong. Nhưng chị văn thứ cứ không trình, nhét vào hộc bàn. Đi qua đi lại chưa lấy được cái Bản sao khai sinh. Thấy thế, mấy ông "cò" đến hỏi han, bỏ vài ba trăm ngàn, thế là xong việc. Nói vậy để thấy, có một chút quyền thì sẽ tạo ra lợi. Những chuyện "ai cũng hiểu" này vì sao vẫn diễn ra. Vì mình đào tạo, quản lý cán bộ kém, không riêng về ngân hàng mà cả các ngành khác.
Xin cảm ơn ông!
| Ông Bùi Kiến Thành từng là Chủ tịch, Tổng Giám đốc Công ty Bảo hiểm quốc tế Mỹ AIU, cố vấn của Tập đoàn Tài chính Mỹ AIG, một trong 10 tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới. Ông là người có nhiều đóng góp trong việc tư vấn và kêu gọi đầu tư nước ngoài trong các dự án lớn như Dự án xây dựng Khu cảng biển Vịnh Vân Phong (Nha Trang - Khánh Hòa), phát triển "Khu công nghiệp và trung chuyển Hàng không Quốc tế Chu Lai", Dự án xây dựng và vận hành Nhà máy điện Phú Mỹ 2... |
Đinh Nguyễn thực hiện