Thanh niên Hà Nội lên đường ra trận. (Ảnh tư liệu)
Báo chí, công luận và cả người đời thường hay nhắc tới một lớp hơn ngàn sinh viên các trường đại học Hà Nội gác bút nghiên lên đường đánh giặc, đã chiến đấu, hi sinh anh dũng và trưởng thành từ những ngày máu lửa ở Quảng Trị những ngày khốc liệt năm 1972. Đó là một thế hệ sinh viên ưu tú, nhưng cũng trong những ngày tháng ấy còn có hàng vạn con em người Hà Nội, cũng lên đường cùng một hướng tiền phương, trong đó có những cậu học sinh lớp 10 mới chỉ vừa hết học kì một của năm học cuối cùng phổ thông, không ít người vừa kịp tham gia kì thi tuyển học sinh giỏi của thành phố khi đã cầm trong tay tờ giấy gọi lên đường nhập ngũ. Hầu hết trong số những cậu trai ấy chưa tròn 18, độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự theo luật định. Vì yêu cầu của chiến trường, thành phố đã phải "vay" quân, huy động cả lứa thanh niên đáng ra sẽ có cơ hội hoàn tất chương trình phổ thông hay ít nhất họ cũng được cùng gia đình, người thân ăn xong cái Tết con Chuột năm ấy. Vậy mà họ đã lên đường, tạm biệt thành phố quê hương, xa trường, xa lớp khi mùa xuân đã lấp ló nơi vườn đào Nhật Tân, luống quất Quảng Bá.
Điều kì diệu là trong số hàng ngàn gia đình, hàng ngàn ông bố, bà mẹ nuốt nước mắt vào trong tiễn những đứa con măng tơ của mình lên đường ngày ấy, không ai đem luật ra để khiếu nại, để làm lý do giữ những đứa con rứt ruột đẻ ra ở lại với mình, dù chỉ để được ăn thêm một cái Tết đạm bạc thời chiến tranh, để được thấy nó mài đèn sách cho kì thi cuối cùng của đời học sinh phổ thông… Và cho đến bây giờ, đã qua bốn mươi năm, lứa chúng tôi kẻ mất, người còn, có người đã nằm lại chiến trường, không bao giờ được hưởng niềm vui được cầm trong tay mảnh bằng tốt nghiệp phổ thông đặc cách, thảy đều thấy việc mình lên đường ngày ấy là một lẽ tự nhiên, lên đường như bao chàng trai từ những làng quê, xưởng máy những năm tháng đất nước lâm nguy ấy. Và cũng không mấy ai nói nhiều đến chuyện ngày ấy, tháng ấy… mình đã gác bút nghiên lên đường bảo vệ Tổ quốc.
Những học sinh lên đường để lại khoảng trống không dễ lấp đầy trong các lớp học. Đó là cảm nhận của bạn bè, thầy cô, của những người ở lại. Hãy đọc những dòng thư của một nữ sinh trường cấp 3 Thăng Long gửi bạn mình: "Các bạn đi rồi lớp mình trầm lắng hẳn đi. Chỗ của các bạn vẫn còn đấy, chúng tớ đã xin với thầy để nguyên chỗ của các bạn cho đến hết năm học…". Khoảng trống không chỉ là những chỗ ngồi mà chúng tôi để lại. Một người bạn gửi thư từ nước Nga xa xôi: "Tao đã đến Len được hơn một tháng. Đã đi thăm Cung điện Mùa Đông, bảo tàng Ermitrargie… Có lúc tao rất nhớ mày và cứ nghĩ: Chắc chắn chỗ của mày (và nhiều đứa khác nữa) là phải ở đây, nếu chúng mày không đi bộ đội". Nhận xét của người bạn không phải không có cơ sở. Bằng chứng là trải qua những năm tháng quân ngũ, dù kiến thức đã rơi vãi ít nhiều, dù sức khỏe đã sút kém, kể cả đã gửi lại chiến trường một phần thân thể…, nhiều người trong số những lính trẻ lên đường ngày ấy đã không chỉ thi đỗ vào các trường đại học danh giá mà còn đủ điểm để được đi học nước ngoài mà không cần đến số điểm ưu tiên.
Vậy mà 40 năm đã trôi qua. Những người lính trẻ chưa đầy 18 tuổi ngày ấy nay đều đã lên ông. Mỗi người một số phận, một công việc, nhiều người không có điều kiện trở lại với việc đèn sách. Cứ đến ngày kỉ niệm nhập ngũ chúng tôi lại tụ họp, ôn lại những kỉ niệm xưa. Và trong những vui buồn của dòng kỉ niệm chỉ thấy nhắc nhiều với sự tiếc thương những đồng đội đã nằm lại chiến trường. Tịnh không một lời ca thán về số phận hay sự thiệt thòi vì việc học hành dang dở. Càng không có ai nhắc lại rằng, tôi, hay chúng ta… đã gác bút nghiên lên đường cứu nước. Đơn giản là ngày ấy lứa chúng tôi lên đường như một lẽ đương nhiên phải thế. Phải chăng đó cũng là một nét đẹp trong tính cách người Hà Nội?