1. Rằm tháng Chạp. Trời cù lao trong xanh, nắng rải nhẹ trên những vuông vườn ngút ngát. Trong khuôn viên của một ngôi nhà cổ trầm mặc rêu phong, cụ Tư Phụng phe phẩy chiếc quạt nan chỉ huy hai đứa cháu đang bắc thang lặt lá trên cây mai cổ thụ.
Cụ Tư năm nay đã ngoại bát tuần nhưng vẫn còn minh mẫn lắm. Rót ly trà còn bốc khói mời khách trên chiếc chõng tre đặt sát mé sông, cụ nhẩn nha: "Lại sắp thêm một cái Tết nữa rồi. Tuổi già nhàn tản nên thấy tháng ngày trôi qua nhanh quá".
Tiếp chuyện người bô lão đất cù lao, thi thoảng tôi lại ghé mắt sang mé vườn nơi những chiếc lá mai lìa cành đang la đà mặt cỏ. Cây mai cổ thụ không cao, chỉ khoảng ba mét, nhưng gốc cây xù xì một người ôm không xuể, cành mai săn chắc vươn ra tứ phía chiều ngang tỏa bóng râm ôm trọn một góc vườn. Mấy chục năm sống ở Sài Gòn, tôi đã từng chứng kiến những gốc "mai ông", "mai cụ", nhưng với gốc "mai tổ" thế này lần đầu tiên có duyên hạnh ngộ.
Như thấu hiểu tâm tư của khách, cụ Tư Phụng thong thả: "Cây mai nhà tôi chẳng biết có tự hồi nào, chỉ biết rằng lúc sinh thời, cụ thân sinh ra tôi kể lại: Khi mở mắt chào đời cụ đã thấy. Có lẽ cây được trồng từ đời tằng tổ!".
Trời cù lao tĩnh lặng, đất cù lao yên bình. Bên kia sông cũng như bên này sông dòng đời cuồn cuộn, những khu đô thị mới, những tòa nhà cao tầng đang hàng ngày hàng giờ biến đổi bộ mặt vùng đất Trấn Biên xưa. Còn ở đây, thời gian như ngừng trôi, không gian như chậm lại với những mái nhà, những vuông vườn, những con đường lát nghiêng gạch chẻ, những đình, đền, miếu mạo cô tịch thâm u bên những gốc mai già... Vẫn in dấu tiền nhân một thuở.
2. Chiều hai mươi chín Tết, bà Tám Huê ngồi trên chiếc sạp nước mé rạch, bà đang lau lá, những tấm lá chuối vuông vức xếp từng chồng. Đậu, gạo đã ngâm, thịt heo đã tẩm ướp, tắt nắng, mấy bà hàng xóm mỗi người một chân một tay sẽ sang phụ giúp, tối là nổi lửa được rồi, sáng mai những đòn bánh tét kịp trên mâm cúng rước ông bà.
Nãy giờ ông Sáu Thời loay hoay gì đó ở cuối vườn, lát sau ông khệ lệ bưng vào trong sân một sọt trái cây và bông vạn thọ. Bà Tám ngừng tay, gọi với lên:
- Cứ để đó cho tôi, ông chạy sang nhà Hai Xạ xin quầy dừa xiêm nghen!
- Thì để tôi thở cái đã nào - ông Sáu ngồi bệt xuống đầu hè, vấn điếu thuốc sâu kèn, nhả khói.
Nhà có ba con trai, hai thằng lớn sau khi yên bề gia thất, ông bà đã chia đất, cắt ruộng cho ra ở riêng. Ngôi nhà hương hỏa này dành cho vợ chồng thằng Út. Thôi thì "giàu Út ăn khó Út chịu", cha mẹ lúc tuổi già xế bóng nương cậy vào đứa nhỏ nhất theo tục lệ của ông bà.
Sáng nay, vợ chồng thằng Út chở nhau lên chợ huyện sắm Tết. Gọi là sắm Tết cho sang chứ chúng nó chủ yếu mua quần áo cho sắp nhỏ nó mừng.
Còn đồ đoàn thì chỉ mua ít nhang, đèn, bánh, mứt, mọi thứ thiếu yếu khác đã có sẵn rồi.
Bà Tám mỉm cười: Sau hơn hai thập kỷ nhà nước bỏ công, bỏ của đầu tư vào Đồng Tháp Mười, bộ mặt vùng đất này đã đổi thay chóng mặt. Một vựa lúa mới đã được hình thành như Tứ giác Long Xuyên. Con đường xuyên Đồng Tháp Mười trải nhựa phẳng lỳ, những xóm ấp mới, mọc lên cặp theo con lộ ngày càng sầm uất. Đúng là một cuộc đổi đời!
Nói đâu xa, cái ấp Gò Nổi nằm sâu tít tắp này của bà cũng đổi thay dữ lắm, cũng được đầu tư điện, đường, trường, trạm như mọi nơi. Không còn là ốc đảo tách biệt với thế giới bên ngoài như trước…
Ấy thế nhưng cái nết, ăn nết ở của dân Gò Nổi vẫn y nguyên. Đấy, nói đâu xa. Tết đến chả nhà ai phải mất công đi mua sắm gì nhiều, tất cả đã có sẵn trên vườn dưới ruộng. Heo, gà, vịt nhà ai chẳng có sẵn một đàn. Bông, trái thì chỉ việc ra vườn bứt về trưng cúng. Nhưng gì thì gì mâm quả trên bàn thờ gia tiên ngày Tết nhất thiết phải có bốn loại: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài. Cầu vừa đủ xài (đọc trại) là ước nguyện đơn sơ của ông cha ta khi xưa đến khai phá vùng đất hoang dã này. Lớp lớp hậu duệ vùng châu thổ sau này vẫn mang nặng lời nguyện cầu nguyên khai ấy.
Còn đây - Bà Tám chỉ vào hai chiếc khạp dộng cá đồng đang rào rào khua nước - Ở xứ "Trên cơm dưới cá" này, Tết nhất đâu thể thiếu cá lóc nướng chui, canh chua bông lau, rô đồng kho tộ…
Cuối mùa nước nổi, khi con lũ rút dần, cá, tôm chui xuống những vùng nước lõm. Tháng chạp, cả ấp ra đồng tát đìa tát lạch, rồi chia đều cho mỗi gia đình ít chục ký cá đồng… ăn Tết. Con cá ngày Tết, âu cũng là để tưởng nhớ đến các bậc tiền nhân thời khai khẩn.
3. Chiều mồng Ba Tết, trời chưa tắt nắng, cụ Hai Vọng hối thúc con cháu bày mâm cúng tiễn ông bà. Tối, cả nhà kéo ra đình xem hát.
Hát đình, ngày hội cổ truyền vào dịp xuân về Tết đến ở ấp Giồng Quéo này không ai biết có từ đời nào. Chỉ biết rằng những bậc cao niên như cụ Hai là chứng nhân từ hồi còn để chỏm.
Tháng Chạp, đã chộn rộn chuẩn bị, các cụ bô lão sẽ quyết định năm nay tổ chức ra sao, phát giấy mời đến những nơi nào… để rồi nhất nhất cả ấp sẽ cùng đồng thanh tương ứng. Ấy là nói chuẩn bị thì cứ chuẩn bị cho trọn lẽ vậy thôi, chứ ngày hội hát đình ở mảnh đất này đã bao đời nay vang danh miền Lục Tỉnh.
Xế trưa, bà con từ khắp nơi đã nô nức đổ về, trên bộ người xe như nước, dưới sông "cơm ghe bè bạn" ken dầy…
Và thế là, từ mồng Ba tới mồng Bảy (hạ nêu), đất Giồng Quéo còn vui hơn Tết. Nhà nhà mở rộng cửa đón khách thập phương, cơm rượu dọn ra thắm thiết như đón người thân từ phương xa bao ngày trông đợi.
Sập tối, sân đình đã chật cứng người ngồi, trong ánh đèn lung linh, nơi giữa thềm đình trải chiếu hoa các nhóm đờn ca tài tử nối tiếp nhau phục vụ. Cứ thế, tiếng trống, tiếng đờn, tiếng ca lảnh lót vang xa. Điệu lý chèo đò xen giọng hò sông nước… Câu vọng cổ ngân dài như dấu chân đi mở cõi của tiền nhân…
Tản văn của Đỗ Thanh Chất